Nhiều người có định kiến rằng nấm ruồi là một loài nấm độc sống trong rừng với mũ nấm màu đỏ phủ đầy chấm bi trắng. Ít ai biết rằng đây là tên gọi chung của một chi nấm ruồi với rất nhiều loài. Hầu hết đều độc, đôi khi thậm chí gây tử vong, nhưng một số có thể ăn được và được coi là đặc sản.
Đặc điểm đặc trưng của nấm ruồi
Nấm ruồi là một chi nấm thuộc họ Amanitaceae. Các loài thuộc chi này còn được gọi là nấm mang do đặc điểm hình dạng mang đặc trưng trên thân nấm.
Ngoại hình và hình ảnh
Nấm ruồi rất hấp dẫn. Mũ nấm non có hình bán cầu hoặc hình trứng, trong khi ở những cây già hơn, mũ có thể thẳng ra rồi dẹt lại. Phần còn lại của mo dưới dạng vảy vẫn còn trên mũ.
Bề mặt của nắp có thể có các màu sau:
- màu đỏ tươi;
- màu vàng;
- quả cam;
- xám hồng;
- trắng;
- nâu đỏ;
- xanh nhạt;
- xám xịt;
- ôliu.
Để có được ý tưởng đầy đủ về hình dáng của nấm, bạn nên xem xét kỹ bức ảnh của nấm ruồi.
Hình thái học
Các đại diện của chi này có những đặc điểm riêng. Có thể mô tả ngắn gọn như sau:
- Sự hiện diện của các mảng đặc trưng trên thân cây.
- Có hình dạng xoắn ốc, đôi khi có hình nấm.
- Sự hiện diện của tàn dư của tấm màn che trên mũ dưới dạng mảnh vụn, mảnh vụn hoặc mảnh vải vụn.
- Một số loài có mùi hăng của cùi.
Một đặc điểm khác biệt nữa giữa các loài là mũ nấm dễ dàng tách khỏi thân. Thịt nấm có màu trắng. Ở một số loài, mũ nấm chuyển sang màu hồng khi cắt ra. Trong hầu hết các trường hợp, mùi nấm không xuất hiện hoặc rất nhẹ. Tuy nhiên, một số loài có mùi hăng, khó chịu.
Cuống lá hình trụ, thường mở rộng về phía gốc. Có thể nhìn thấy rõ phần mang. Bề mặt mang được bao phủ bởi các lá mang màu trắng, vàng hoặc kem. Các lá mang bám lỏng lẻo vào cuống lá hoặc bám yếu.
Nơi phân phối
Các loài đại diện của chi này sinh trưởng ở vùng khí hậu ôn đới tại Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ.
| Tên loài | Nơi phân phối |
|---|---|
| Màu đỏ | Đất có tính axit dưới cây vân sam, ít gặp hơn dưới cây bạch dương |
| Trắng hôi thối | Địa hình đồi núi, rừng rậm. |
| Mùa xuân | Đất ẩm của rừng rụng lá |
| Mũ tử thần | Đất màu mỡ của rừng rụng lá |
| của Caesar | Đất cát khô của rừng rụng lá |
Những cây nấm đầu tiên xuất hiện vào giữa mùa hè và kết trái cho đến đợt sương giá đầu tiên.
Có thể ăn được hoặc không ăn được
Trái với quan niệm phổ biến rằng tất cả các loài nấm agaric ruồi đều cực độc, một số loài có thể ăn được. Các loài sau đây được coi là ăn được:
- của Caesar;
- hình trứng;
- cô đơn;
- xám hồng.
Tất cả các loài khác không chỉ không ăn được mà còn có độc. Ngoại lệ duy nhất là nấm ruồi Sicilia và nấm muscaria, được phân loại là ăn được có điều kiện.
Các loại và mô tả của chúng kèm theo hình ảnh
Chi này bao gồm hơn 20 loài. Những loài phổ biến nhất được mô tả trong bảng.
| Tên loài | Đặc điểm của loài | |||
|---|---|---|---|---|
| mũ | Chân | Bột giấy | Hồ sơ | |
| Nấm ruồi đỏ (độc) | Hình bán cầu, màu đỏ. Bề mặt được bao phủ bởi các mụn cóc mọc thường xuyên, màu trắng hoặc màu be nhạt. | Hình trụ, kích thước 7-12 cm, màu trắng hoặc vàng. | Đặc, màu trắng hoặc vàng nhạt. Không mùi. | Những mảnh vảy dày, lớn, màu kem. |
| Nấm ruồi thối trắng (độc chết người) | Hình nón, màu trắng. Phần giữa có màu vàng nhạt. Bề mặt nhẵn, không có mụn. | Hình trụ, gần như luôn cong, có màu trắng. | Màu trắng, có mùi clo nồng ở chỗ vỡ. | Thường xuyên, có màu xám hoặc trắng. |
| Nấm Spring Fly Agaric (độc chết người) | Hình bán cầu, lan rộng theo thời gian, màu trắng, có bề mặt nhẵn. | Hình trụ, dày ở phần đáy, cùng tông màu với nắp, có lớp phủ mỏng. | Đặc, màu trắng, giòn. Không mùi. | Dày, màu trắng. |
| Death Cap (độc chết người) | Hình trứng, lan rộng hơn theo tuổi, có mép nhẵn và bề mặt gợn sóng. Màu sắc có thể bao gồm các sắc thái trắng, xám và xanh lá cây. | Hình trụ, có hoa văn vân gợn sóng. | Thịt, màu trắng, có mùi ngọt. | Dày, màu trắng. |
| Nấm Caesar (ăn được) | Quả hình trứng hoặc hình bán cầu, có rãnh dọc theo mép. Có thể có màu đỏ tươi hoặc vàng cam. | Ở phần gốc, nó có dạng củ, màu vàng cam và có một vòng. | Thịt, màu vàng nhạt. | Thường có màu vàng kim. |
Mặc dù phổ biến và được ưa chuộng rộng rãi, hiện nay vẫn chưa có phân loại thống nhất nào về nấm thuộc chi này.
Sự khác biệt so với nấm ăn tương tự như nấm ruồi
Giống nấm thối có thể bị nhầm lẫn với nấm champignon. Người hái nấm phân biệt chúng bằng sự hiện diện của volva ở nấm ruồi và qua mang của chúng. Ở nấm champignon, mang có màu hồng hoặc tím nhạt, trong khi ở nấm ruồi, mang có màu trắng.
Bạn có thể quan tâm đến:Loài nấm mùa xuân này cũng giống với nấm champignon ăn được và một số loài russula. Nấm độc này khác với nấm champignon ở phần volva trên thân. Đặc điểm này cũng giúp phân biệt nó với nấm russula xanh. Nấm russula xanh không có volva và vòng, và nhỏ hơn đáng kể so với nấm độc.
Nấm mũ tử thần thường bị nhầm lẫn với nấm champignon và nấm russula. Chúng khác nấm champignon ở mang màu trắng và cùng một volva. Nấm russula không có mang, vì vậy ngay cả những người hái nấm thiếu kinh nghiệm cũng có thể phân biệt được nấm ăn được với nấm độc chết người.
Các loài còn lại không thể nhầm lẫn với nấm ăn được. Một số loài có hình dạng tương tự. Tuy nhiên, những loại nấm này hoặc là có độc hoặc không ăn được.
Tính chất dược liệu
Nấm được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian để điều trị các bệnh sau:
- viêm khớp;
- bệnh gout;
- bệnh chàm;
- bệnh đường tiêu hóa;
- xơ cứng;
- các bệnh về mắt;
- bệnh khớp;
- mất ngủ.
Nấm có đặc tính chữa lành vết thương. Nhiều người hái nấm thường dùng mũ nấm nghiền nát đắp lên vùng bị thương. Nấm agaric ruồi được dùng làm thuốc giảm đau cho bệnh thấp khớp. Nhiều công ty mỹ phẩm sử dụng một số thành phần nhất định của nấm để tạo ra các sản phẩm chống lão hóa.

Nấm ruồi chứa các thành phần hoạt tính sau:
- chất độc muscarinic;
- choline;
- bufotenin;
- axit ibotenic;
- chất khử trùng.

Một số chất trên ở liều lượng nhất định có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng con người.
Đơn thuốc
Việc bào chế thuốc không khó, điều quan trọng là phải làm đúng cách. Các loại thuốc phổ biến nhất là thuốc mỡ và thuốc cồn dùng ngoài da. Phương pháp bào chế:
- Để chuẩn bị thuốc mỡ, chỉ sử dụng nắp. Chúng được nghiền thành bột và cân. Một lượng kem đặc (heavy cream) bằng trọng lượng nắp được thêm vào bột. Thuốc mỡ thành phẩm được bảo quản trong hộp thủy tinh hoặc gốm kín khí trong tủ lạnh.
- Cồn thuốc được dùng ngoài da để chườm và xoa bóp. Chỉ dùng phần mũ nấm để chế biến. Nghiền nát mũ nấm và cho vào lọ thủy tinh hoặc gốm. Bảo quản mũ nấm trong tủ lạnh ba ngày.

Cồn nấm Sau đó, đổ đầy ba phần tư bình đựng nấm bằng nắp nấm nghiền nát, và đổ đầy phần còn lại bằng rượu vodka. Ngâm nấm trong nơi tối trong hai tuần. Tuyệt đối không được uống cồn thuốc, vì cồn làm tăng độc tính lên gấp nhiều lần.
Bạn có thể quan tâm đến:Do nguy cơ ngộ độc cao, dụng cụ pha chế thuốc cần được rửa sạch kỹ lưỡng. Để thuốc xa tầm tay trẻ em và thú cưng. Chỉ sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ vi lượng đồng căn.
Trả lời các câu hỏi thường gặp
Chủ đề về nấm độc gây ra rất nhiều câu hỏi:
Nấm ruồi là một chi nấm agaric, nhiều loại có độc. Một số loại dễ bị nhầm lẫn với các loại nấm ăn được, vì vậy cần cẩn thận và thận trọng khi thu hoạch.
https://www.youtube.com/watch?v=K2pkLl9VX9I



















Nấm sò có lợi ích và tác hại gì đối với con người (+27 ảnh)?
Phải làm gì nếu nấm muối bị mốc (+11 ảnh)?
Những loại nấm nào được coi là nấm ống và mô tả của chúng (+39 ảnh)
Bạn có thể bắt đầu hái nấm mật ong ở khu vực Moscow vào năm 2021 khi nào và ở đâu?